thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN

 

Số 9  - Tháng 11/2006

 


 

 

Chuyển biến trong lãnh đạo và hệ thống lãnh đạo
Đảng và Nhà nước Việt Nam từ sau 1945:
Khả năng cải cách thể chế quyền lực
để chống tham nhũng

Vũ Quang Việt

 

Lời nói đầu: Trong bài này, tác giả không nhằm phê phán cá nhân, nhưng nhu cầu phân tích đòi hỏi nhận định hoặc đánh giá dựa vào những thông tin mà tác giả có được. Những nhận định này có thể thay đổi khi điều kiện lịch sử cho phép giới chuyên gia có được những thông tin về lịch sử chính xác hơn. Tác giả viết bài này không chỉ dưới con mắt của một người ưa thích phân tích mà với tư cách một người Việt Nam muốn làm sáng tỏ vấn đề với hy vọng đóng góp vào công cuộc đổi mới đất nước. Bài viết này đã được sửa khá nhiều sau Hội thảo Hè 2006 tại Berkeley, California (USA) hai ngày 28 và 29 tháng 7 năm 2006, nhất là thêm phần hai. Tác giả xin cám ơn những góp ý của các anh Cao Huy Thuần, Lương Bá Hùng, Hoàng Thái Việt, Nguyễn Ngọc Giao, chị Đỗ Tuyết Khanh, và một số người khác nữa. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là các anh chị trên nhất thiết đồng ý với những nhận định, thông tin trong bài viết.        

Các đảng cộng sản theo quan điểm Quốc tế Ba của Lênin được thành lập với mục đích làm cách mạng nhằm lật đổ chính quyền tư sản, thiết lập chính quyền chuyên chế của Đảng và trấn áp các phần tử chống đối. Với mục đích như thế, quyền quyết định trong Đảng về nguyên tắc tập trung chủ yếu vào Bộ Chính trị và thực tế là vào một hay vài người trong Bộ Chính trị với vai trò thứ yếu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các cơ quan Nhà nước. Vừa làm chiến tranh giải phóng vừa nhắm vào việc thực hiện một chính quyền dưới sự lãnh đạo độc tôn của Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam cũng được tổ chức tương tự. Sau năm 1975 và nhất là sau sự mở đầu của một chính sách cải cách khá triệt để năm 1990, và nhất là Đại hội 10 năm 2006, thì mục tiêu chính của Đảng và Nhà nước cũng đã khác hẳn. Đảng không chỉ đại diện giai cấp công nhân mà là mọi tầng lớp lao động kể cả chủ tư bản với mục tiêu tối hậu là: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

 

Quá trình đổi mới ở Việt Nam không mang tính chủ động mà là một chuỗi những phản ứng thụ động trước những đòi hỏi bức bách của tình thế, khi những kế hoạch mang tính chủ động nhưng nằm trong khuôn khổ của tư duy cũ như chính sách giá lương tiền đã đưa đến kết quả tệ hại hơn trước. Việc xin gia nhập tổ chức WTO, vì không thể tiếp tục đứng lẻ loi, cũng không thể nói là mang tính chủ động vì Việt Nam có thể xin gia nhập tổ chức này từ trước khi WTO ra đời vào năm 1995, ít nhất là khi Trưng Quốc làm đơn xin gia nhập vào năm 1986, thay vì mãi đến năm 1995 mới nộp đơn. Việc xin vào chậm đưa đến việc Việt Nam chịu nhiều thiệt thòi so với Ấn Độ và Trung Quốc, đặc biệt trong lĩnh vực hàng may dệt vì không đuợc hưởng những cơ hội mở cửa thị trường thế giới khi các hạn ngạch áp dụng lên các nước xuất khẩu đuợc bãi bỏ từ đầu năm 2005 cho các thành viên, với sự chấm dứt của Hiệp ước về dệt may ATC.  Quá trình đổi mới này thể hiện qua vai trò ngày càng quan trọng của địa phương ở cả trong Đảng lẫn chính quyền, đưa dần đến sự suy thoái ảnh hưởng của vài “công thần” chế độ trong Bộ Chính trị Đảng mà kết quả có thể là tốt đẹp nếu nó dẫn tới việc hoạt động mang tính tập thể của Bộ Chính trị. Quá trình đổi mới cũng thể hiện bằng sự phát triển tự phát nhằm dần dần khẳng định quyền lực của Quốc hội đã được ghi trong Hiến pháp. Quyền lực này mang tính đối trọng với Đảng và Chính phủ. Nhưng chính vì tính tự phát, phá rào để tự giải quyết đời sống đã đưa đến tình trạng trạng tự “làm luật” để tự thu tự chi nằm ngoài ngân sách Nhà nước. Thu nhập của công chức đã không còn mang tính thống nhất mà được chia thành hai phần: phần lương chính thức và phần thu nhập thêm (có thể bằng hoặc vượt lương chính thức). Việc tăng thu nhập bằng mọi cách tất yếu dẫn đến những hành động “phi pháp” tập thể kể cả tham nhũng tập thể. Nhưng tiêu cực cơ bản là tình trạng “phi pháp” này phá hoại tính hoàn chỉnh và thống nhất của ngân sách quốc gia và tính chân thật của công chức. Ngân sách không còn phản ánh đúng thu chi của Nhà nước, nhất là công của người lao động trong hệ thống nhà nước. Việc Nhà nước hợp pháp hoá thu nhập tự phát này chỉ là hành vi chấp nhận sự đã rồi, và sẽ thật tệ nếu nhu cầu cải cách tiền lương và ngân sách không phải là ưu tiên số một. Chính việc hợp thức hoá này thực chất đã trao quyền cho cấp lãnh đạo ở các cấp có thể tự làm luật, kéo theo bè đảng tham nhũng. Nhiều người vì đem một ít quyền lợi cho cấp dưới (và nhiều quyền lợi cho chính mình) lại được coi là người có đầu óc tiến bộ, đảng viên tiên tiến. Do công chức không được tuyển chọn độc lập và lại không có luật bảo vệ tính chuyên nghiệp của công chức, cho nên họ luôn luôn “e dè” cấp trên do Ban Tổ chức ở Trung ương, Ban Cán sự ở các Bộ và Ban Tổ chức ở các tỉnh sắp đặt sẵn. Về mặt chính trị, chống tham nhũng đòi hỏi xây dựng một hệ thống công chức mang tính chuyên nghiệp được luật pháp bảo đảm để phân biệt giữa cán bộ chính trị được Đảng hay chính phủ cử với công chức được tuyển dụng (sẽ không bàn đến trong bài này). Nó cũng đòi hỏi sự phân quyền và hệ thống độc lập của kiểm sát và toà án - nghĩa là tạo một bước quan trọng trong quá trình dân chủ hóa. Về mặt kinh tế, nó đòi hỏi cải tổ ngân sách với lộ trình xoá bỏ một cách cơ bản thu nhập thêm ngoài ngân sách và bảo đảm tiền lương trong ngân sách đủ sống. Bài này nhằm xem xét quá trình đổi mới vừa qua và khả năng đổi mới sắp tới trong hệ thống chính trị Việt Nam để từ đó xem xét khả năng đáp ứng với mục tiêu phát triển dân chủ và chống tham nhũng của hệ thống tổ chức Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 

PHẦN I
SỰ CHUYỂN ĐỔI TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ
VIỆT NAM TỪ NĂM 1975

 

1. Quyền lãnh đạo không tập trung vào một cá nhân, nhưng cũng không phải là lãnh đạo tập thể mà tập trung vào một vài cá nhân kéo dài suốt từ 1975 đến Đại hội 10 (2006)  

Trước năm 1975, mục tiêu chính của tổ chức Đảng và Nhà nước miền Bắc Việt Nam là lãnh đạo chiến tranh giải phóng, với mục đích tối hậu là thực hiện một xã hội thủ tiêu tư bản tư nhân dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản. Đứng đầu và có thể quyết định mọi chuyện trong Đảng và Nhà nước thực chất là một số uỷ viên Bộ Chính trị. Ban Chấp hành Trung ương và Nhà nước chỉ là cánh tay nối dài nhằm thực hiện mọi quyết định của Bộ Chính trị. Đại hội Đảng lần thứ 3 năm 1960 bầu Bộ Chính trị gồm 11 người thêm 2 ủy viên dự khuyết, trong đó quan trọng nhất phải kể đến Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng. Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 người, thêm 31 dự khuyết. Hệ thống lãnh đạo này được duy trì suốt 16 năm cho đến năm 1976. 

 

Sau 16 năm, Đại hội Đảng lần thứ 4 họp năm 1976 khi đất nước thống nhất; mục đích tối hậu được xác định rõ ràng hơn: một chế độ không còn tư bản tư nhân, thị trường bị xoá bỏ. Nhà nước dưới sự chỉ đạo của Đảng điều động và lên kế hoạch mọi hoạt động của đời sống. Số ủy viên Bộ Chính trị tăng lên 14 với 3 dự khuyết; Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 người với 32 dự khuyết. Số ủy viên được tăng là nhằm đưa vào Ban Chấp hành Trung ương những người lãnh đạo tỉnh, ngành trọng yếu trên khắp miền Nam và miền Bắc. Thực chất lãnh đạo toàn diện vẫn nằm trong tay một vài người trong Bộ Chính trị. Sự mở rộng Ban Chấp hành Trung ương là nhằm mở rộng vai trò điều hành của Đảng ở mọi nơi.

 

Bảng 1. Các Đại hội Đảng từ 1960-2006[1]
 

Năm

Các Đại hội

Số ủy viên Bộ Chính trị,
Ban Chấp hành Trung ương

Tổng bí thư, Thủ tướng

1960

Đại hội 3

Bộ Chính trị: 11+2
Ban Chấp hành Trung ương: 47+31

Bí thư thứ nhất: Lê Duẩn
Thủ tướng: Phạm Văn Đồng

1976

Đại hội 4

Bộ Chính trị: 14+3
Ban Chấp hành Trung ương: 101+32

Tổng bí thư: Lê Duẩn
Thủ tướng: Phạm Văn Đồng

1982

Đại hội 5

Bộ Chính trị: 13+2
Ban Chấp hành Trung ương: 116 + 36

Tổng bí thư: Lê Duẩn
Thủ tướng: Phạm Văn Đồng

1986

Đại hội 6

Bộ Chính trị: 13+1
Ban Chấp hành Trung ương: 124+ 49

Tổng bí thư: Nguyễn Văn Linh:
Thủ tướng: Đỗ Mười

1991

Đại hội 7

Bộ Chính trị: 13
Ban Chấp hành Trung ương: 146

Tổng bí thư: Đỗ Mười
Thủ tướng: Võ Văn Kiệt

1996

Đại hội 8

Bộ Chính trị: 19
Ban Chấp hành Trung ương: 170

Tổng bí thư: Lê Khả Phiêu
(Ban Chấp hành Trung ương bầu cuối năm 1997)
Thủ tướng: Võ Văn Kiệt

2001

Đại hội 9

Bộ Chính trị: 13
Ban Chấp hành Trung ương: 150

Tổng bí thư: Nông Đức Mạnh
Thủ tướng: Phan Văn Khải

2006

Đại hội 10

Bộ Chính trị: 14
Ban Chấp hành Trung ương: 160+21

Tổng bí thư: Nông Đức Mạnh
Thủ tướng: Nguyễn Tấn Dũng

 

Bắt đầu từ năm 1977, Đảng chủ trương “cải tạo công thương nghiệp và nông nghiệp” ở miền Nam mà thực chất là xoá bỏ tư bản tư nhân và cưỡng bách nông dân vào hợp tác xã. Mới đây, trong góp ý với Đại hội 10 (2006),[2] Võ Văn Kiệt cho rằng đây là sai lầm tả khuynh mà đến nay những cá nhân ra quyết định vẫn không bị phê phán. Ông cho rằng đây là “nguyên nhân chính dẫn tới khủng khoảng và ách tắc, gây những thiệt hại rất lớn lao cho kinh tế…”, tạo ra “hiện tượng ‘di tản’, ‘thuyền nhân’” “những vết thương trên cơ thể đất nước, để lại những di chứng trong tâm hồn của không ít đồng bào ta.” Điều này đưa đến việc Nguyễn Văn Linh từ chức ủy viên Bộ Chính trị, có lẽ vì không đồng ý với quyết sách đó. Dựa vào lời phê phán của ông Kiệt thì nhiều quyết định của Bộ Chính trị không hẳn là mang tính tập thể. 

 

Cả một thời gian dài từ 1975 đến 1986 khi Lê Duẩn qua đời, việc quyết định vận mệnh đất nước có lẽ chỉ nằm trong tay vài người. Và có lẽ những quyết định ấy không phải là những quyết định tập thể, dựa trên chương trình làm việc tập thể và thường xuyên bởi vì tập thể Bộ Chính trị chỉ họp quyết định về một vấn đề quan trọng nào đó khi vài nhân vật chủ chốt đồng ý họp bàn về vấn đề đó. Dù nhận xét này cần được sử liệu làm rõ thêm, nhưng hồi ký của một số người cũng phần nào xác nhận sự tin cậy của nhận xét này là quyền hành quyết định cao nhất về một số vấn đề đã được phân chia ranh giới đến mức chỉ khi nào người có quyền tối hậu đồng ý thì mới có thể đi đến cái gọi là quyết định tập thể. Tất nhiên đây là điều được nhiều người giải thích là nguyên tắc không thành văn: “chờ đợi nhau đồng thuận" của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhờ nó mà Đảng tránh được những cuộc tranh giành quyền hành đẫm máu xảy ra ở những Đảng Cộng sản khác. Hồi ký của Anh hùng tình báo Nguyễn Tài[3] cho thấy là việc ông ta bị nghi ngờ hợp tác với địch khi bị bắt ở miền Nam kéo dài từ 1977 đến 1988 chỉ được giải quyết khi người trách nhiệm về nhân sự và an ninh là Lê Đức Thọ (Trưởng ban Tổ chức Trung Ương) gật đầu cho trắng án. Trong suốt thời gian 10 năm, mọi đề nghị của cá nhân, cơ quan điều tra, hoặc Ban Bí thư chỉ có tác dụng là tránh được cho ông ta phải nằm nhà đá. Ngoài ra cũng được báo chí nước ngoài nói tới là sự kiện hoãn ký kết Hiệp định Thương mại Việt Mỹ giữa Bill Clinton và Phan Văn Khải vào phút chót ngay tại Tân Tây Lan khi hai bên đã sửa soạn ký[4] với lý do là Việt Nam muốn làm rõ thêm vài điểm, trong khi thực tế lý do chính là một lãnh tụ đã về hưu đòi hỏi xem xét. Nhận xét này cho thấy tầm ảnh hưởng cá nhân, kiềm chế hoặc vượt lên quyết định của tập thể là ở mức cao.    

 

Sơ đồ 1: Tổ chức Đảng
(có một chỗ khác với tổ chức hiện nay là Ban Kiểm tra Trung Ương không do đại hội bầu)
 

 

 

 

Trao đổi giữa tác giả với một số người có quyền trong lúc đó cũng cho thấy là việc giam giữ người trong bộ máy chính quyền miền Nam trong những trại tù binh (được gọi là trại học tập cải tạo) kéo dài quá lâu, vi phạm lời hứa của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam cũng chỉ vì một số người chủ chốt trong Bộ Chính trị chưa đồng ý vì lo sợ sự phá hoại của họ nếu được thả ra. Việc để quân Việt Nam ở Cam-pu-chia quá lâu, thay vì giao lại cho Liên Hợp Quốc, cũng thế: nó đòi hỏi Lê Đức Thọ và sau đó là Lê Đức Anh gật đầu. Nhận xét này không nhằm phê phán cá nhân mà nhằm đưa tới một phân tích quan trọng mà tác giả sẽ trình bày sau này: đó là do cách làm việc như trên mà các quyết định, đặc biệt là về kinh tế, không thể nhanh chóng và phải chờ đợi đến lúc tình thế bức bách tới mức có thể tạo thành nguy cơ sụp đổ chế độ thì các lãnh tụ mới lấy quyết định. Tại sao phải chờ đợi: Cần đồng thuận? Không nắm được thông tin? Độc quyền thông tin? Không tin dùng người có khả năng phân tích? Đánh giá chính trị bất lợi bất cứ những ai có ý kiến ngược chiều? Sự ngạo mạn của kẻ chiến thắng?    

 

Vâng, không thể bỏ qua yếu tố ngạo mạn của kẻ chiến thắng, nhất là từ một số lãnh đạo tối cao. Thái độ thách thức biến Trung Quốc thành kẻ thù sau chiến tranh rõ ràng có nguyên nhân từ thái độ của Trung Quốc và ý đồ của họ nhằm đổi chác quyền lợi của Việt Nam để tạo mối giao hảo với Mỹ. Xa hơn, nó có nguyên nhân sâu xa là Trung Quốc có ý đồ chiến lược lâu dài nhằm kiểm soát toàn bộ biển Đông. Do đó, Trung Quốc đã chiếm đóng Hoàng Sa trước khi Mỹ và miền Nam hoàn toàn thất bại, và chiếm thêm một vài hòn đảo ở khu vực Trường Sa sau giải phóng. Tuy nhiên sự thù nghịch với Trung Quốc cũng có thể có nguyên nhân từ tính ngạo mạn sau chiến tranh chống Mỹ của một số lãnh đạo cao cấp và có thể là toàn ban lãnh đạo đảng, tưởng rằng kẻ thù nào cũng phải run sợ vì cho rằng Việt Nam có thể đánh bại bất cứ kẻ thù nào. Nhưng, dù đánh bại Cam-pu-chia hay đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc vào năm 1979 thì chính Việt Nam lại rơi đúng vào cái bẫy mà Trung Quốc đã gài sẵn: đẩy Việt Nam vào cuộc chiến tranh dài lâu nhằm cô lập Việt Nam và làm nền kinh tế của Việt Nam kiệt quệ.  Hơn nữa do thiếu tầm nhìn chiến lược dài lâu, cho nên dù trước tình hình quan hệ với Trung Quốc xấu như thế, Lê Duẩn và có thể các nhà lãnh đạo khác lúc đó cũng vẫn không thấy sự cần thiết phải liên hệ với Mỹ để cân bằng sự đe doạ của Trung Quốc. Thay vì chấp nhận lập lại ngoại giao với Mỹ theo đề nghị của Tổng thống Mỹ Carter thì lại đòi họ bồi thường chiến tranh như là điều kiện để có ngoại giao.[5]  Điều gì đã đưa đến quyết định trên vượt khỏi truyền thống được chấp nhận gần cả ngàn năm của cha ông ta từ thời Lý, Trần và gần nhất là thời Quang Trung Nguyễn Huệ là gửi sứ thần sang Trung Quốc xin triều cống để tránh việc họ gửi quân trở lại sau khi quân xâm lược của họ bị Việt Nam đánh bại?  Chính sách sai lầm này đưa đến việc Việt Nam hoàn toàn bị cô lập trên thế giới cho đến khi rút quân khỏi Cam-pu-chia và giải quyết với Trung Quốc. Hàng chục năm chiến tranh để chỉ trở lại chỗ cũ!

 

Võ Văn Kiệt đã viết rằng: “Các cuộc họp Ban Chấp hành Trung ương là nơi phát huy dân chủ và trí tuệ của Ban Chấp hành Trung ương để thảo luận, ra các quyết định và chính sách…Không nên tái diễn lại tình trạng có lúc Ban Chấp hành Trung ương biến thành nơi ‘quán triệt’ một chủ trương chính sách đã định trước…”[6] Phát biểu này cũng khẳng định thêm nhận xét ở trên về vai trò lãnh đạo tối cao của Bộ Chính trị.  Chỉ có điều Võ Văn kiệt không cho biết rõ là tình trạng đã bắt đầu từ khi nào. Võ Văn Kiệt nhắc lại nguyên tắc của Đảng là Đại hội là cơ quan quyền lực cao nhất và cho rằng Uỷ Ban Kiểm Tra Trung ương phải do Đại hội bầu (Góp ý về điều lệ Đảng, thư 2/7/2005). Sơ đồ 1, khác với sơ đồ tổ chức hiện nay của Đảng ở chỗ nó phản ánh ý kiến đề nghị của Võ Văn Kiệt là Uỷ Ban Kiểm Tra Trung ương nên được đại hội bầu ra. Trong khi theo sơ đồ này, như Võ Văn Kiệt phát biểu, Bộ Chính trị không phải là cấp cao của Ban Chấp hành Trung ương (vì được Ban Chấp hành Trung ương bầu ra) và Ban Kiểm tra Trung ương nên do Đại hội bầu (nhưng ý kiến này không thành hình, Uỷ Ban Kiểm Tra Trung ương theo điều 17 Điều lệ Đảng hiện nay vẫn do Ban Chấp hành Trung Ương, khác với sơ đồ 1). Tuy nhiên ở đây cũng cần phân biệt rõ đâu là cơ quan làm chính sách và đâu là cơ quan lấy quyết định thực hiện chính sách nếu không tính hiệu quả của hệ thống sẽ không còn.

 

2. Đổi mới từ năm 1988 đưa đến sự tăng cường quyền lực của địa phương và sự suy yếu quyền lực của Bộ Chính trị

 

Đổi mới, chủ yếu về chính sách kinh tế, chỉ bắt đầu mang tên gọi rõ nét này khi Trường Chinh lên chức Tổng bí thư vào tháng 7 năm 1986 với khẩu hiệu “đổi mới”, tức là trước đó vẫn còn một vài người lãnh đạo chủ chốt chưa chịu gật đầu. (Vấn đề này thường được giải thích là lãnh đạo cần chờ đợi nhau vì yêu cầu đoàn kết nhất trí). Tuy nhiên, quá khứ đè nặng, đồng thời với sự không đồng tình ủng hộ của Lê Đức Thọ, Trường Chinh không tiếp tục được ngôi vị. Ba lãnh tụ cao cấp nhất, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và đặc biệt là Lê Đức Thọ về hưu, như một giải pháp nhân danh "đoàn kết nội bộ". Nhưng dù về hưu họ vẫn muốn giữ “uy” (chữ của Võ Văn Kiệt) trong vai trò cố vấn, và sau này dù không còn ban cố vấn trung ương, các nhân vật quan trọng vấn tìm cách giữ cái uy . Đại hội 6 vào tháng 12 năm 1986 bầu Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thư. Số ủy viên Bộ Chính trị không tăng so với trước đó nhưng số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương tăng lên 124 chính thức + 49 dự khuyết.

 

Nguyễn Văn Linh lên chức vị Tổng bí thư năm 1986 được sự ủng hộ của địa phương, đặc biệt là ở miền Nam, vì uy tín của ông trong việc không chấp nhận và tiếp tục phản bác sau đó chính sách cải tạo tư sản ở miền Nam sau năm 1975.[7] Cũng do hậu thuẫn của địa phương mà ông lên nắm quyền, ông ta càng muốn tăng hoặc ủng hộ đòi hỏi tăng số đại diện của địa phương trong Ban Chấp hành Trung ương và tăng cường vai trò tự chủ trong quản lý kinh tế của địa phương. Trước năm 1975, cả nước có 70 tỉnh (41 tỉnh ở miền Nam và 29 tỉnh ở miền Bắc).[8] Sau khi thống nhất, với chính sách tập trung và kế hoạch hoá, năm 1979 số tỉnh bị gộp lại thành 37 tỉnh và 3 thành phố. Do chủ trương tản quyền đồng thời với đòi hỏi của địa phương, bắt đầu từ năm 1986, số tỉnh được từ từ chia ra theo giới tuyến trước giải phóng. Thí dụ Bình Trị Thiên tách ra lại thành ba tỉnh là Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế; Hà Nam Ninh tách ra lại thành Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình. Vào năm 1990 số tỉnh và thành phố tăng lên con số 44, năm 1996 tăng lên 53, 1997 là 61, và từ năm 2004 là 64 tỉnh và thành phố. Số ủy viên Ban Chấp hành Trung ương do đó tăng lên, đạt mức cao nhất là 170 uỷ viên chính thức (không còn dự khuyết) thời Lê Khả Phiêu năm 1996.[9]

 

Quyền lực của địa phương tăng cường có nguyên nhân tất yếu từ sự phá sản của chính sách xoá bỏ kinh tế thị trường của trung ương và tập trung kế hoạch và từ sự suy yếu quyền lực của Bộ Chính Trị do những thất bại từ sau 1975. Do các chính sách sai lầm về nhiều mặt của trung ương, Việt Nam bị bao vây kinh tế, cô lập về chính trị trên trường quốc tế, viện trợ của Liên Xô và các nước Đông Âu chỉ giúp Việt Nam khỏi chết đói. Để tự sống, địa phương đã phá rào, điển hình là Công ty lương thực của Thành phố Hồ Chí Minh do bà Ba Thi, một thời nổi tiếng, làm giám đốc. Bà Thi sẵn sàng mua lúa gạo với giá thị trường, kể cả tự xuất khẩu để có ngoại tệ nhập hàng bán cung cấp hàng hoá cho nông dân. Bà được phong Anh hùng lao động vì có công phá rào. Tiếp đó là các chính sách vượt rào của Long An và khoán sản phẩm của Đoàn Duy Thành ở Hải Phòng.

 

Công ty bà Ba Thi cuối cùng mang nợ nước ngoài tới hơn 10 triệu USD vì thiếu khả năng tính toán kinh tế.  Công ty của bà cuối cùng gần như phá sản.[10]  Đó là mặt trái của vấn đề phá rào. Vô kỷ luật có lúc được coi là anh hùng, và thực tế nó đòi hỏi thế khi hệ thống mất tính logic không còn đáp ứng nổi với đòi hỏi của cuộc sống, nhất là khi hệ thống đưa con người tới chỗ không tự nuôi nổi mình để có thể phải hành động mất nhân tính, nhưng mặt trái của nó là phá hỏng tính thống nhất và kỷ cương của hệ thống.  Tình trạng vô kỷ luật, coi thường pháp luật, địa phương chủ nghĩa phát triển và kéo dài sau đó. Các cuộc cải cách sau này là những cố gắng xây dựng một hệ thống mới. Tuy nhiên như đã nói, vì lãnh đạo mất thời gian chờ đợi nhau đồng thuận, và vì họ chỉ bàn bạc tìm giải pháp khi phải đối phó khi tình hình trở nên nghiêm trọng, cho nên việc tìm kiếm mô hình mới không mang tính tự giác dựa trên nghiên cứu và thảo luận chuyên sâu của chuyên gia, kết quả là ngay trong thời điểm hiện nay mô hình quản lý nhà nước và sự liên hệ giữa đảng và chính quyền không thể rõ ràng. Liên hệ trong hệ thống quyền lực chưa rõ ràng thì tham nhũng, tình trạng thiếu hiệu quả trong việc quản lý nhà nước là khó lòng tránh khỏi. Điều này sẽ được phân tích sâu hơn ở phần II. 

 

Trong thời phá rào, nổi bật từ năm 1986 đến đầu năm 1989, kinh tế địa phương có khá hơn nhưng nền tài chính quốc gia đi gần đến suy sụp gần như toàn diện. Trung ương rỗng túi. Địa phương thu thuế nhưng không muốn nộp về trung ương vì họ cần giữ lại để cứu đói hoặc cứu nguy nền kinh tế địa phương. Tỷ lệ thuế thu được trên GDP lúc đó cũng ở mức rất thấp khoảng 4% năm 1989-1990 so với năm 2005 là 16.7%. Tổng thu của Nhà nước từ nội địa chỉ là 13% so với hiện nay là 23.7% GDP.[11] Vào khoảng thời gian này, lạm phát tăng phi mã vì nguồn chi chủ yếu là in khống tiền, nhất là khi viện trợ của Liên Xô chấm dứt.

 

Không còn cách nào khác, công cuộc cải cách cuối năm 1988 (thực hiện từ đầu năm 1989) do đó mang tính triệt để hơn; thị trường và giá cả tự do được chấp nhận. Người ta thường cho rằng cải cách ở Việt Nam bắt đầu từ năm 1986, nhưng cho đến cuộc cải cách cuối 1988, các cuộc cải cách trước đó chỉ mang tính nửa vời, vì mục tiêu vẫn là bảo đảm vai trò quyết định tuyệt đối trong sản xuất (cả công nghiệp và nông nghiệp) liên quan đến sản phẩm cần sản xuất, nguồn cung ứng vật tư và giá cả sản phẩm, người nông dân vẫn chỉ là người làm thuê, nộp sản, và chỉ được quyền bán cho nhà nước theo giá nhà nước quyết định.  Với cải cách cuối năm 1988, nông dân được tự chủ trong sản xuất, kinh tế tư nhân ở một mức độ giới hạn được chấp nhận và Việt Nam cũng đồng thời chấp nhận mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Đưa chữ cải cách vào trong ngoặc là nhằm cho thấy cuộc cải cách này cũng là việc chấp nhận sự đã rồi nhất là về giá cả, sau khi siêu lạm phát xảy ra do sự thất bại của chính sách giá lương tiền[12] (lạm phát là 874% năm 1986, 323% năm 1987, 493% năm 1988).[13] Nhưng do tác dụng của việc chấp nhận giá thị trường, cuộc cải cách này đã tạo một bước tiến thần kỳ trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam và toàn bộ nền kinh tế. Từ một nước thiếu gạo, đa số dân chúng ở mức thiếu ăn, năm 1989 và 1990 Việt Nam trở thành một nước xuất gạo tới gần 1.5 triệu tấn, so với một số năm trước đó, gạo nhập có lúc lên tới nửa triệu tấn.[14] Việc áp dụng giá thị trường tự do cho phép nông dân thấy việc bán luá gạo ra thị trường lợi hơn là tồn kho. Ngoài ra việc nâng lãi suất cao hơn tốc độ lạm phát có tác dụng thu hút tiền vào ngân hàng và do đó giảm cầu, đưa mức lạm phát xuống thấp hơn trước. Mặc dù do thúc bách của tình thế, cuộc cải cách này cũng phần nào mang tính chủ động nhất là về chính sách lãi suất.  Đòi hỏi cải cách chín muồi, nhưng cũng không dễ thực hiện. Tại sao thế? Quyết định chấp nhận cuộc cải cách triệt để này đi từ chính Đỗ Mười, một vị Thủ tướng được coi là bảo thủ, và được sự đồng tình của đại đa số Ban Chấp hành Trung ương đại diện quyền lợi thiết thân của địa phương, trước sự phản bác của Nguyễn Văn Linh, một Tổng bí thư lãnh đạo cải cách vì sợ mất chủ nghĩa xã hội.[15] Có lẽ đây là đóng góp duy nhất về cải cách của ông Đỗ Mười, còn sau đó thì ông ta tiếp tục quán tính bảo thủ là chính.  Chuyện như đùa nhưng là thật. Thật đến mức nào thì lịch sử sẽ làm sáng tỏ. Nhưng chính vì sự thay đổi này mà kinh tế phát triển vượt bậc từ 1989 đến 1997. Quyền thu thuế sau đó cũng được tập trung vào Bộ Tài chính với các bộ phận như Tổng cục Hải quan, Tổng cục Thuế tại trung ương và Cục thuế tại các tỉnh theo luật Ngân sách ra đời năm 1996. Chính sự tập trung tài chính này, và sau đó được phân phối trở lại cách tỉnh yếu kém, đã tạo nên sức mạnh của nền kinh tế.

 

 

3. Sự thoái trào của chủ nghĩa công thần?

 

Thời kỳ sau Đại hội 7 là thời kỳ phát triển kinh tế mạnh mẽ mà có người đã gọi là “thời hoàng kim” của đổi mới, với sự cổ võ nhiệt tình cho việc mở rộng cánh cửa giao lưu với nước ngoài của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và tất nhiên cũng gặp phản ứng mạnh từ những công thần lo sợ “diễn biến hoà bình”, thực chất là lo sợ Mỹ lật đổ chế độ. Xung đột ý kiến giữa các “công thần” của chế độ lên cao điểm ở Đại hôi 8 và sau đó. Chữ công thần, được dân gian sử dụng, có thể bắt nguồn từ chữ khai quốc công thần tức là những người có công lớn, đóng góp vào việc dựng lên một triều đại và sau đó lạm dụng quyền thế. Từ này, vừa qua, ám chỉ những người dùng ảnh hưởng chính trị và tổ chức nhằm xếp đặt người thân cận vào những vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, và sẵn sàng vận động chặn đứng đổi mới.  Vấn đề công thần như một ý niệm mang tính khái quát thật ra không chỉ là hiện tượng đặc biệt ở Việt Nam mà là hiện tượng phổ biến ở các nước có đảng cộng sản lãnh đạo, cùng với quán tính bảo vệ ghế lãnh đạo suốt đời trước đây, và tìm cách duy trì ảnh hưởng sau khi về hưu thời gian gần đây. Ông Võ Văn Kiệt, có lẽ cũng không thoát khỏi quán tính đó, trong thư góp ý với Đại hội đã diễn giải nó như là tình trạng một số lãnh đạo không còn tại chức muốn tiếp tục xác quyết cái “uy” của mình nhằm tạo ảnh hưởng vượt khỏi sự bàn bạc và quyết định tập thể. Tất nhiên sẽ có tình trạng sử dụng “uy” của công thần này để chống lại “uy” của công thần khác. Lạm dụng quyền uy như thế, nhất là nhằm triệt hạ uy tín của các đại công thần khác, như trường hợp xảy ra cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tất nhiên gặp sự phản ứng của các công thần khác, nhất là của hàng triệu công thần bình thường khác, trong đảng và ngoài đảng, đã tham gia vào hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ.  Phân tích này cũng cho thấy là uy công thần sẽ phải đến hồi kết thúc bởi vì thời thế tạo ra những người có công lớn đến mức đạt được thế công thần sẽ không còn.

 

Vai trò của địa phương tăng nhưng vẫn chưa đủ sức mạnh để chấm dứt được vai trò quyết định của “một số cá nhân” thường được dư luận gọi là “công thần” trong Bộ Chính trị và ngay cả khi họ không còn ở trong Bộ Chính trị. Trên ý niệm khái quát trên, ảnh hưởng của vài cá nhân tiếp tục tăng tới đỉnh điểm ở Đại hội 8 (1996). Do vậy, đây là lần đầu tiên chức Tổng bí thư của Lê Khả Phiêu không được bầu ngay tại Đại hội mà được các công thần dàn xếp sau đó, với danh nghĩa Ban Chấp hành Trung ương bầu năm 1997. Khi ba vị công thần trong Ban Cố vấn là Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt còn ngồi đó, Lê Khả Phiêu không khác gì một nhà lãnh đạo bị trói tay, lại phải đối phó với nền kinh tế bắt đầu gặp khó khăn do cuộc khủng hoảng tài chính ở Á châu năm 1997, đưa đến tình trạng số lượng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giảm hẳn.  Lê Khả Phiêu là một người không có kinh nghiệm gì về kinh tế và hành chính mà chỉ là một thượng tướng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, một chính trị viên được đánh giá là trong sạch.  Sự xuất hiện của Lê Khả Phiêu có vài lý do: (a) sự sụp đổ của Liên Xô năm 1991 đòi hỏi một người trung thành và cứng rắn, (b) Nông thôn và Tây nguyên nổ ra những cuộc biểu tình phản đối việc chiếm đoạt đất đai và nạn tham nhũng ngày càng tràn lan.

 

Vào thời điểm 1997, tác dụng tích cực lúc đầu của chính sách tự do giá cả lương thực và sự xoá bỏ các hợp tác xã của đổi mới không còn nữa. Không những thế đời sống nông thôn ngày càng thấp kém so với thành phố vì đầu tư của nhà nước và của nước ngoài chỉ tập trung vào thành phố. Thêm vào đó là quyền hành không kiềm chế của Đảng và chính quyền địa phương được mở rộng trong thời trước đổi mới đưa đến việc thao túng quyền lực như tự “làm thuế” ở địa phương, áp dụng lao động cưỡng bách, cùng với việc đòi nhân dân đóng góp quá đáng để xây đường, làm đường tải điện (như ở Thái bình mỗi cá nhân bị ép đóng góp lên tới 200 ngàn đồng theo giá thời điểm 1997) nhưng lại bị tham ô đục khoét. Các cuộc biểu tình của nông dân xảy ra khắp nơi, cao điểm nhất là cuộc biểu tình của nông dân Thái Bình vào tháng 4 và tháng 7 năm 1997, mở rộng đến 128 làng ở 6 trong 7 huyện.[16] Theo báo Nhân Dân (6/11/1992), từ 1988 đến 1992 có 50 vụ xung đột nghiêm trọng phản đối việc phân chia ruộng đất không bình đẳng. Kết quả của các cuộc biểu tình này là sự tham gia phản kháng của một số người, trong đó có tướng Trần Độ.[17]

 

Thay vì đặt vấn đề phát triển cả kinh tế lẫn cải cách bộ máy nhà nước để chống tham nhũng là mục tiêu đồng thời, Lê Khả Phiêu lại chỉ đưa chủ trương chống tham nhũng với Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) năm 1999 và tỏ thái độ nghi ngờ Tây phương và lực lượng “diễn biến hoà bình” cả trong và ngoài nước. Nghị quyết này không đả động gì đến việc cải cách thể chế quyền lực theo hướng phân quyền, kiểm soát và cân bằng quyền lực trong hệ thống Đảng và nhà nước để chống tham nhũng. Chỉ mới đây ông ta mới than phiền là Đảng “chưa xây dựng được thiết chế để nhân dân tham gia giám sát đảng viên và giám sát Đảng…Rồi toàn Đảng giám sát Trung ương. Trung ương giám sát Bộ Chính trị ra sao?”.[18] Thời gian đó một số người liên quan đến tham nhũng bị phê phán như ủy viên trung ương, Phó Thủ tướng  Ngô Xuân Lộc, ủy viên trung ương và Thống đốc ngân hàng nhà nước Cao Sỹ Kiêm; hai bí thư tỉnh ủy (trong đó có tỉnh Thái Bình) bị cách chức. Ngoài ra là các vụ Tân Trường Sanh (1999), Minh Phụng EPCO (2000) và hàng loạt đảng viên cấp cao bị lật tẩy ở thành phố Hồ Chí Minh. Trong bài phỏng vấn nhắc đến ở trên Lê Khả Phiêu kể rằng “khi tôi còn làm TBT, có anh mang đến 5.000USD, tôi gọi anh Trần Đình Hoan lúc đó là Chánh văn phòng Trung ương lên, ghi biên bản. Tôi không muốn đưa ra công khai việc này nhưng muốn cảnh cáo người mang tiền đến xem anh đưa mấy nghìn USD để làm gì, có phải để chạy chức, chạy quyền không. Không phải ít những trường hợp như vậy đâu.” Tiền hối lộ tận tay mà không đưa ra công khai thì đúng là người lãnh đạo cao nhất cũng còn không áp dụng theo tinh thần luật pháp. Khi Lê Khả Phiêu, người cổ võ chống tham nhũng mất chức, tham nhũng được thể tiến tới, thậm chí dư luận phổ biến trong quan chức cho rằng đó là “chất nhờn” cần thiết cho bộ máy Nhà nước. Xì căng đan PMU18 trước Đại hội 10 (2006) là dễ hiểu. 

 

Có nhiều lý do được giới quan sát nước ngoài,[19] do ảnh hưỏng bởi tin đồn từ những người chống Lê Khả Phiêu, đưa ra giải thích để sự mất chức của Lê Khả Phiêu như việc dùng Cục An ninh Quân đội để theo dõi hoạt động của các ủy viên Bộ Chính trị, việc bị kết án bởi những tin đồn là nhượng đất cho Trung Quốc, việc tiến cử người cùng quê Thanh Hoá và ý muốn kết hợp chức Tổng bí thư với chức Chủ tịch nước. Tất nhiên cũng có tin đồn ngược lại là Lê Khả Phiêu dùng bộ phận A10 để điều tra của cải đặc biệt của gia đình các công thần. Sự thật như thế nào thì phải đợi các sử gia sau này trả lời. Lê Khả Phiêu bị thay thế trong Đại hội Đảng năm 2001 và người thay thế là Nông Đức Mạnh, lần này được bầu trong Đại hội.

 

Ở Đại hội 8 năm 1996, Bộ Chính trị vẫn không giải quyết được vấn đề lãnh đạo cao cấp như một tập thể, điều này thể hiện rõ nhất qua việc các ông Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt bị áp lực về hưu một năm sau đại hội (lần đầu tiên xảy ra) để nhường chức cho ông Lê Khả Phiêu lên nắm chức Tổng bí thư vào cuối năm 1997. Dù về hưu, ba vị trong Ban Cố vấn, những nhân vật chủ chốt trong Bộ Chính trị cũ, vẫn tìm cách khống chế Tổng bí thư. Cuộc tranh dành ảnh hưởng này đưa đến việc ông Lê Khả Phiêu bị loại ở Đại hội 9 vào năm 2001 và ông Nông Đức Mạnh lên thay thế. Sự việc này đánh dấu sự suy yếu thực quyền của Bộ Chính trị.

 

Chống tham nhũng thất bại bởi vì tham nhũng không phải chỉ do người có quyền tạo ra mà còn do cơ chế và chính sách. Chống tham nhũng chí ít đòi hỏi việc bảo đảm hoạt động dân chủ trong trong quá trình đổi mới cơ chế và chính sách. Điều này sẽ được phân tích thêm ở Phần II.   

 

Kết quả Đại hội 10 (2006) cho thấy vai trò nòng cốt của địa phương. Trong 64 tỉnh thì Bí thư Tỉnh ủy của 63 tỉnh trở thành ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và riêng thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội mỗi tỉnh còn được thêm 1 ghế nữa. Số ghế dành cho địa phương như vậy chiếm 40% tổng số ghế Ban Chấp hành Trung ương, số ghế quan trọng thứ hai là 28 ghế dành cho đầu não trong hệ thống hành chính như các bộ ngành trung ương, rồi đến Quân đội dành được 18 ghế, Công an 7 ghế; tổng số này có thể chiếm 40% ghế Ban Chấp hành Trung ương. Các đoàn thể mặt trận, phụ nữ, lao động, đoàn thể quần chúng khác, đại biểu chuyên biệt trong quốc hội chỉ chiếm khoảng 20%.  Vai trò địa phương này đối với sự phát triển của kinh tế và xã hội thật sự là điều cần thiết cho dân chủ nhằm phát triển tính năng động và cạnh tranh trong quá trình phát triển, miễn rằng nền tài chính quốc gia và tiền tệ được quản lý tập trung và thống nhất và luật pháp quốc gia được tôn trọng. Vấn đề địa phương hoá Đảng đặt ra câu hỏi mới: cái gì về dài lâu làm hệ thống Đảng gắn kết với nhau ngoài mục tiêu tiếp tục nắm chính quyền? 

 

4. Sự chuyển hướng triệt để trong mục tiêu phát triển của Đảng

 

Các Đại hội Đảng trước đây còn xác định vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản trong Đảng. Đại hội 10 (2006) về thực chất bỏ hẳn mục tiêu xây dựng xã hội chủ nghĩa theo nghĩa một Nhà nước Cộng sản, không có giai cấp, qua việc cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân, việc chấp nhận mọi thành phần kinh tế, và việc cho rằng Đảng là của tất cả mọi người lao động, Đại hội Đảng 2006 đã đánh dấu một cách dứt điểm sự chuyển hướng mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam: Đảng đã rũ bỏ vai trò làm cách mạng chuyên nghiệp dưới sự lãnh đạo của thành phần ưu tú nhất trong Đảng sang một Đảng chính trị thuần túy trong một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đảng ngày càng mang tính chất đại diện địa phương, thành phần xã hội và cơ quan hành chính, cơ bản là từ dưới cử lên. Chỗ ngồi lãnh đạo địa phương và ngành nghề đã được định sẵn từ vòng bỏ phiếu ở đại hội cấp dưới trước Đại hội toàn Đảng. Thậm chí việc bầu người vào Ban Chấp hành Trung ương xảy ra trước khi Đại hội bàn về phương hướng và chính sách của Đảng. Tinh thần và mục tiêu cách mạng, tính ưu tú và tầm nhìn chiến lược gần như không còn chỗ đứng. Trước Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương cũ đã sắp đặt sẵn hoặc chấp nhận tính đại diện hành chính đã được địa phương sắp đặt sẵn. Trong Đại hội, gần như chỉ có 2 người được sắp đặt sẵn không trúng cử vì có vấn đề.   

 

Đến Đại hội 10, vai trò và ảnh hưởng của các công thần không còn mang tính quyết định. Điển hình là quan điểm thủ cựu giáo điều của một số công thần dùng chiêu bài chống diễn biến hoà bình và bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lê đến cùng (được đăng tải rộng rãi trên báo chí) đã không còn được chấp nhận. Đảng đã chấp nhận cho việc đảng viên làm nhà tư bản, và chấp nhận xem xét, bổ sung và sửa đổi các tín điều của chủ nghĩa. (Sẽ bàn thêm ở phần sau). Qua đó cũng thấy các công thần đã mất khả năng điều động Ban Chấp hành Trung ương và xã hội một cách toàn diện như trước đây, do đó cũng mở ra cơ hội cho phép Bộ Chính trị hoạt động trong tương lai theo nguyên tắc tập thể cá nhân phụ trách.[20] Võ Văn Kiệt cho rằng Bộ Chính trị không phải là cấp trên của Ban Chấp hành Trung ương. Nhưng trên thực tế Bộ Chính trị chỉ có sức mạnh nếu như nó dám lấy quyết định dựa vào phương hướng mà Ban Chấp hành Trung ương đề ra. Về thực tế, theo tác giả nghĩ, Ban Chấp hành Trung ương sẽ tiếp tục mang tính đại diện địa phương và ngành nghề, do đó thành viên Bộ Chính trị phải vượt lên trên tính địa phương và chuyên ngành, phải là trí tuệ ưu tú, mang tầm nhìn chiến lược cho toàn quốc gia, đặt lợi ích toàn thể trên lợi ích cục bộ thì Đảng mới tạo được sức mạnh, mới đóng nổi vai trò lãnh đạo trong giai đoạn tới. Người ta có cảm tưởng thành viên Bộ Chính trị vẫn chỉ gồm những người dĩ hoà vi quí để không mất lòng ai. Chỉ trích của Võ Văn Kiệt nói chung là đúng đắn, nhưng về thực tế cái gút của vấn đề là Bộ Chính trị. Ban Chấp hành Trung ương sẽ chỉ đóng vài trò bổ nhiệm những người ưu tú vào Bộ Chính trị và kiểm soát Bộ Chính trị. Tất nhiên cũng phải cần cơ chế kiểm soát Ban Chấp hành Trung Ương.

 

Đại hội 10 cũng đánh dấu một điểm thay đổi nhỏ khác mà nếu phát huy đúng sẽ mang lại sự cân bằng cần thiết về quyền lực: đó là lần thứ hai Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Nguyễn Văn Chi, là một ủy viên Bộ Chính trị. (Trước đây, bà Nguyễn Thị Xuân Mỹ cũng là Uỷ viên Bộ Chính trị, nhưng rõ ràng là vai trò của Ban Kiểm tra Trung ương đã không được đặt đúng mức vì bà không được coi là người có vị thế mạnh). Điều này xảy ra có lẽ là do sự nổi cộm của vụ tham nhũng PMU18. Trước đây Ban Kiểm tra Trung ương chỉ gồm những người trong Trung ương.  Để tạo được tính độc lập của Ban Kiểm tra Trung ương, Sơ đồ 1 cho thấy ít nhất Ban này phải do Đại hội trực tiếp bầu ra thì mới có đủ tư cách độc lập để kiểm tra Đảng. 

 

Có thể tóm lược một số chuyển biến quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện rõ ràng hơn trong Báo cáo chính trị ở Đại hội, nhưng lại không được thể hiện trong Điều lệ Đảng.[21] Điều này có thể trong tương lai đưa đến việc diễn giải của đảng viên khác nhau, một đàng dùng Báo cáo và một đàng dùng Điều lệ, nhưng cần để ý là Báo cáo không chỉ là tuyên ngôn với đảng viên mà còn là lời hứa với dân chúng, còn Điều lệ chủ yếu dành cho đảng viên:

 

  • Trong Báo cáo chính trị thì mục đích của Đảng đã thay đổi, trọng tâm đặt vào mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, trong đó tư hữu được tôn trọng và mọi thành phần kinh tế kể cả tư bản tư nhân trong và ngoài nước được bảo vệ (đã có trong Hiến pháp 1992). Còn trong Điều lệ mới, thì vẫn xác định mục tiêu cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản, tức là xoá bỏ giai cấp, xoá bỏ quyền tư hữu: "Mục đích của Ðảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản."

 

  • Báo cáo chính trị đã được thông qua trong Đại hội 10 (2006), đã có những thay đổi quan trọng như sau:[22]

     

    • đảng viên được quyền làm nhà tư sản không hạn chế về mức độ. Điều này phản ánh qua câu viết trong Báo cáo: "Đảng ta chủ trương: đảng viên làm kinh tế tư nhân phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương." Điều lệ mới của Đảng hoàn toàn không nhắc đến chủ trương này.

     

    • đảng viên là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc." Tuy nhiên trong Điều lệ mới, Điều 1.1 vẫn giữ nguyên việc coi đảng viên là các chiến sĩ cách mạng như cũ: "Ðảng viên Ðảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam..."

 

  • Báo cáo chính trị viết: “xây dựng Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh” một cách mơ hồ nhưng đã bỏ nhóm chữ “kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin [23]  mà sẵn sàng xét lại, bổ sung và sửa đổi bằng cách “tiếp thu kết quả tổng kết 20 năm đổi mới, các công trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về xây dựng Đảng để xem xét, bổ sung, sửa đổi một số điểm cần thiết, chín muồi.” Điều này mở cửa cho sự phát huy trí tuệ, giảm sự trói buộc của kinh điển giáo điều, vượt cả những điểm viết trong Dự thảo Báo cáo: “Thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận, giải quyết đúng đắn những vấn đề do cuộc sống đặt ra.”[24]

 

  • Các nhà lãnh đạo Đảng công thần đã và sẽ không còn ảnh hưởng quyết định như trước kia.

 

  • Các nhà lãnh đạo Đảng hiện nay và tương lai cũng chỉ là những người lớn lên như bất cứ một người Việt Nam nào khác. Vai trò lãnh đạo sẽ không được xây dựng trên sự hy sinh và cũng không bị đòi hỏi hy sinh như thời chiến tranh. Ngược lại, chính ở vai trò lãnh đạo mà họ có thể có quyền lực thu vén lợi ích cá nhân và gia đình nếu không có hệ thống kiểm sát và cân bằng quyền lực.

 

  • Ban Chấp hành Trung ương sẽ tiếp tục gồm những đại diện của địa phương và thành phần xã hội. 

 

Dù xã hội thay đổi có tính triệt để như thế, nhưng trước mắt Đảng Cộng sản vẫn là đảng duy nhất ở Việt Nam lãnh đạo nhà nước, và do đó có quyền cử người, chủ yếu là đảng viên, vào tất cả các chức vụ của nhà nước từ Trung ương đến địa phương, cũng như chức vụ lãnh đạo các doanh nghiệp quốc doanh, tạo ra khả năng gắn kết giữa tiền và quyền lực. Chính vì thế mà việc kiểm tra sự trong sạch của đảng viên và việc cải cách bộ máy để thực hiện điều này là điều cần thiết hơn bao giờ hết.[25] Đòi hỏi của khách quan là một thể chế kiểm soát và cân bằng quyền lực chứ không phải là phê bình tự phê bình. 

 

5. Sự tăng cường quyền lực của Quốc hội

 

Trước đây, Quốc hội chỉ là nơi quán triệt quyết định của Đảng và chỉ có tính nghi lễ. Từ Đại hội 8 (1996), khi vai trò của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu yếu thế thì vai trò của Quốc hội và Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh trở nên mạnh hơn trước. Ít nhất là có một lần Quốc hội đã dùng quyền ghi trong Hiến pháp 1992 bác bỏ ứng cử viên Cao Sĩ Kiêm (một ủy viên trung ương) vào chức vụ Thống đốc Ngân hàng theo đề nghị của Thủ tướng Phan Văn Khải.  Quốc hội cũng đã bắt đầu có những buổi chất vấn Bộ trưởng, rồi phát hình cho quần chúng xem. Vai trò của Quốc hội được nâng cao hơn thời kỳ sau Đại hội 9 (2001) khi Nông Đức Mạnh làm Tổng bí thư và Nguyễn Văn An làm chủ tịch Quốc hội. Quốc hội đã có đại biểu chuyên trách, khoảng 20% số đại biểu, thay vì kiêm nhiệm như vừa làm bí thư, chủ tịch tỉnh, hoặc bộ trưởng vừa làm đại biểu quốc hội. Những chất vấn đã có nội dung hơn nhưng vẫn chưa đạt được phẩm chất của những buổi chất vấn được tổ chức công khai, kéo dài nhiều ngày nếu cần như ở các nước phương Tây. Các buổi chất vấn của Quốc hội thiếu tính chuyên nghiệp vì chỉ xảy ra trong các hai kỳ họp thường xuyên hàng năm của Quốc hội với thời gian ít ỏi và thiếu chuẩn bị của những người hỏi không chuyên nghiệp.

 

Dù sao ở một nước độc đảng, diễn biến ở Việt Nam cho thấy Quốc hội vẫn có thể trở thành một cơ quan đối trọng quan trọng với cơ quan hành pháp và Đảng, đóng góp vào việc mở rộng dân chủ và làm giảm bớt tham nhũng và lạm quyền trong bộ máy nhà nước và Đảng, và tính đối trọng này sẽ mạnh hơn nếu Quốc hội chỉ gồm các nghị sĩ chuyên nghiệp, được dân chúng chọn lựa. Lý thuyết cân bằng quyền lực vẫn có thể thực hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào. Sự tự phát xử dụng quyền lực Quốc hội Việt Nam theo Hiến pháp trong thời gian qua cho thấy bản thân xã hội đã ngầm bày tỏ nhu cầu này. 

 

Vai trò đối trọng trong hệ thống chính trị và quá trình dân chủ hoá vẫn còn thuộc về tương lai vì mặc dù Hiến pháp bảo vệ quyền ứng cử của dân chúng nhưng Luật Bầu cử thì vi hiến rõ rệt. Theo Luật Bầu cử, người tự ứng cử chỉ được đưa vào danh sách ứng cử nếu như “hội nghị cử tri” ở cơ quan, tổ chức và nơi ứng cử viên cư trú đồng ý. Điều 37 và 39 trong Luật Bầu cử đề ra cơ chế nhằm loại trừ những người tự ứng cử.  “Hội nghị hiệp thương lần thứ hai do Đoàn Chủ tịch Trung ương Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam tổ chức…dự kiến …danh sách sơ bộ những ứng cử người ứng cử đại biểu Quốc hội và gửi lấy ý kiến ở nơi cư trú” (Điều 37, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội) “chiếu theo tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội nhận xét, bày tỏ sự tín nhiệm đối với ứng cử đại biểu Quốc hội bằng cách giơ tay hoặc bỏ phiếu kín theo quyết định của Hội nghị.” (Điều 39, Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội). Chính Luật Bầu cử này cho phép Đảng loại trừ bất cứ ai tự ứng cử mà họ không chấp nhận vì cái gọi là hội nghị cử tri có thể được dùng làm biện pháp loại trừ ứng cử viên. Việc xoá bỏ điều vi hiến này có thể là biện pháp nâng cao tính đại diện của Quốc hội Việt Nam.  Nếu chỉ muốn giảm số ứng cử viên thì một số nước đã thực hiện theo hai cách sau: a) người ứng cử là đại biểu của đảng chính thống với số đảng viên đạt được một tỷ lệ nhất định so với số dân, b) người ứng cử phải tự lấy được một tỷ lệ chữ ký nhất định của cử tri trong khu vực mình ứng cử.

 

Sơ đồ 2: Tổ chức nhà nước

 

Sơ đồ 2 cho thấy tổ chức Nhà nước hiện nay. Vai trò của Quốc hội đã được Hiến pháp xác định rõ ràng trong việc bổ nhiệm và cách chức mọi thành viên trong chính phủ (Điều 84.7). Việc một số chức sắc cao cấp của nhà nước thuộc quyền quản lý của Bộ Chính trị hay Ban Chấp hành Trung ương thay vì thuộc quyền kiểm soát của Thủ tướng là sự hiểu ngầm giữa các đảng viên (hay do luật ngầm của Đảng), chứ bản thân Thủ tướng có toàn quyền hành động theo Hiến pháp (Điều 114.2), kể cả cách chức các chủ tịch và phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh (Điều 114.3) cũng như đình chỉ các quyết định và nghị quyết của cấp dưới (Điều 114.4 và 114.5). Vấn đề trên bảo dưới không nghe chính là do Thủ tướng không dám thực hiện quyền được Hiến pháp giao. Ở địa phương, chính quyền cấp trên cũng có quyền như thế. Cái chưa được trong Hiến pháp là tính độc lập của Toà án Nhân dân Tối cao vì Chủ tịch nước có quyền đề nghị Quốc hội bầu và miễn nhiệm. Hai người, chánh án Toà án Nhân dân Tối cao và Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân, theo Hiến pháp lại có quyền bổ nhiệm tất cả các thành viên ở cấp địa phương. Quyền hạn có vẻ lớn nhưng hiện nay thì chắc là mọi quyết định đều phải có sự đồng ý của bí thư tỉnh. Tuy nhiên cũng như Quốc hội và Thủ tướng, quyền hành của hai cơ quan này không đến nỗi hạn chế nếu bản thân người lãnh đạo dám sử dụng quyền hạn của mình.

 

6. Vài nhận định về chuyển biến của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam sau 1975

 

Bất cứ một kết luận cũng sẽ có người phản bác, tuy nhiên một bài nghiên cứu về chuyển biến, dù ở dạng rất thô sơ, cũng không thể không đưa ra một số nhận định. Nhận định có thể sơ lược như sau:

 

Khoá 4 và 5 (1975, 1982) thời Lê Dun: Áp đặt chính trị và kinh tế toàn trị một cách duy ý chí trong cả nước theo mẫu hình chủ nghĩa xã hội đã có mặt trên nhiều nước trên thế giới, bất chấp hoặc không nắm bắt được những chuyển biến trong tình hình thế giới. Kinh tế Việt Nam suy thoái, xã hội mất niềm tin.

 

Khoá 6 (1986) thời Nguyễn Văn Linh:  Khoá 6 có các đặc điểm: mở rộng quyền tự chủ trong sản xuất ở trong nước, còn bên ngoài, chủ nghĩa toàn trị sụp đổ một mảng lớn khi sự đổi mới về tư tưởng do sự phá sản của đường lối cũ không thành công ở Đông Âu và đặc biệt ở Liên Xô, hai năm đầu (1987 và 1988). Trước tình hình đó, từ mùa hè 1989, có sự co cụm và siết chặt trở lại.  Ổn định bằng mọi giá, chống diễn biến hoà bình bắt đầu từ đó.

 

Khoá 7 (1991) thời Đỗ Mười: Đổi mới khá triệt để qua việc chấp nhận kinh tế thị trường, mặc dù chính sách toàn trị trong chính trị vẫn tiếp tục. Kinh tế phát triển mạnh nhờ đổi mới kinh tế và đầu tư nước ngoài. Mâu thuẫn trong nội bộ giữa ý hướng phát triển kinh tế và chống diễn biến hoà bình.  Hai năm 1990-1991 là cao điểm thời chống diễn biến hoà bình trong đó có việc đề nghị với Trung Quốc giải pháp đỏ ở Cam-pu-chia mà Trung Quốc không đồng ý và Cam-pu-chia phản đối (coi thêm Hồi ký Trần Quang Cơ, nguồn ở ghi chú 5).

 

Khoá 8 (1996) thời Lê Khả Phiêu (Đỗ Mười làm phần đầu khoá, Lê Khả Phiêu chỉ phần sau khoá này): : Nêu cao khẩu hiệu chống tham nhũng, chống diễn biến hoà bình, nhưng bỏ quên các biện pháp cần thiết nhằm tăng đầu tư của tư nhân trong nước và làm giảm bớt ảnh hưởng của việc giảm đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, một phần do suy thoái của khu vực vì khủng hoảng tài chính ở Á châu năm 1997 nhưng phần chính là do cải cách đã không tiến thêm được bước nào đáng kể nên không đáp ứng được sự mong đợi của tư bản tư nhân trong nước và nước ngoài.

 

Khoá 9 (2001) thời Nông Đức Mạnh kỳ 1: Tập trung trở lại việc đổi mới chính sách kinh tế nhằm vực dậy sức phát triển kinh tế. Đảng hoá chính quyền, chất lượng lãnh đạo giảm sút (theo đánh giá của Võ Văn Kiệt)[26] vì quyền lực dựa vào “cơ cấu”, “quan hệ”, “dĩ hoà vi quí”. Tham nhũng phát triển ở mức cao chưa từng thấy. Chính vì bức xúc chống tham nhũng mà vai trò đối trọng của Quốc hội có dịp phát triển, có thể nói là tự phát.

 

Khoá 10 (2006) thời Nông Đức Mạnh kỳ 2: Xoá bỏ tính chất “cách mạng” của Đảng về danh nghĩa, cho phép đảng viên làm kinh tế tư bản tư nhân và cho phép xét lại chủ nghĩa Mác-Lênin.  Cái cần được đặt ra là liệu thể chế có thể dân chủ hơn không và Quốc hội có thể tăng cường quyền lực của mình hơn không? Và liệu những phát triển trên vẫn mang tính tự phát hay do Đảng chủ động thực hiện? 

 

Các khoá tới:  Câu hỏi liên quan vẫn là liệu Đảng có thể chủ động đi vào hướng cải cách thể chế nhằm tạo cạnh tranh trong Đảng, giữa các nhóm chủ trương chính sách khác nhau, trong việc nắm chính quyền (chức Thủ tướng và các Bộ)? Câu hỏi quan trọng này được đặt trong bối cảnh mục tiêu xã hội của Đảng đã thay đổi, do đó nhu cầu ổn định xã hội đòi hỏi sự đồng thuận chứ không phải là sự đoàn kết nhất trí của thời chiến tranh và cách mạng.     

 


 

PHẦN II
THỬ TÌM MÔ HÌNH VIỆT NAM NHƯ MỘT MÔ HÌNH CHÍNH TRỊ
VÀ KHẢ NĂNG THÍCH ỨNG NHẰM GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN XÃ HỘI:
VẤN ĐỀ CHỐNG THAM NHŨNG

 

Điều không ai nghi ngờ là tham nhũng là con đẻ của một hệ thống nhà nước mà ở đó quyền lực không minh bạch, trách nhiệm không rõ ràng, và lại không được kiểm sát, và hạn chế; và ở đó xã hội công dân bị kềm kẹp, không thể phát triển để người dân tự bảo vệ quyền lợi của họ. Nhưng chính tình trạng tham nhũng ngày càng cao đã đòi hỏi sự cải cách thể chế một cách chủ động hơn trước đây, quan trọng nhất là xác định các khâu cốt lõi để đổi mới: đó là xác định một hệ thống nhà nước pháp quyền dựa trên nguyên tắc phân quyền có tính độc lập, kiểm sát lẫn nhau và một hệ thống lương hợp lý.  Nhưng để tìm hiểu về khả năng chống tham nhũng ta cần thiết phải phân tích Việt Nam như một mô hình chính trị trong dạng chuyển tiếp. Cải cách như thế nào? Có thể nghĩ về Việt Nam như một mô hình chính trị ở trong dạng chuyển tiếp, dân chủ với những hạn chế nhất định nhưng có khả năng chống tham nhũng?  

 

1. Về sự chuyển động ra khỏi mô hình toàn trị ở Việt Nam 

 

Người ta có thể dễ dàng đi đến kết luận là hệ thống hay mô hình độc Đảng tất dẫn đến tham nhũng. Nhưng điều này thì Singapore hiện nay hay chế độ quân phiệt Park Chung Hee ở Nam Triều Tiên trước đây là hai thí dụ phản bác. Hai chế độ này rất ít tham nhũng vì mục tiêu của những người lãnh đạo là vì sự phát triển đất nước họ chứ không chỉ vì mục đích nắm giữ quyền lực cho cá nhân để trục lợi cho bản thân, gia đình và phe phái do đó họ chủ động thiết lập hệ thống, cơ cấu nhà nước và luật pháp nhằm tích cực chống tham nhũng. Cái chính không phải là chỉ có cá nhân lãnh đạo đứng ra chống tham nhũng và bảo đảm công lý. Điều quan trọng là có hệ thống và cơ cấu được thiết chế để làm những chuyện này, để rồi khi cá nhân lãnh đạo không còn ngồi ghế thì hệ thống, cơ cấu và luật pháp vẫn còn đó. Nhưng tất nhiên nó phải bắt đầu từ người hay nhóm lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược.

Sơ đồ 3. Phân loại các mô hình toàn trị và độc quyền

 

Cá nhân tự do kinh doanh

Cá nhân không tự do kinh doanh

Tôn giáo

 

 

    Có chọn lựa

Mô hình xã hội dân sự: Hầu hết các nước nằm ở mô hình này

 

    Không có chọn lựa

Mô hình toàn trị tôn giáo: Iran, Saudi Arabia

 

Ý thức hệ

 

 

    Có chọn lựa

 

 

    Không có chọn lựa

Mô hình độc đảng: Singapore, Trung quốc, Việt Nam hiện nay và Đài Loan trước đây. Tất nhiên có sự khác biệt giữa các nước này về mô hình độc đảng.

Mô hình toàn trị ý thức hệ: Các nước cộng sản trước đây và các triều đại theo ý thức hệ Khổng tử trước đây  nằm ở mô hình này

Độc tài cá nhân

Mô hình độc tài cá nhân: Nam Hàn thời Park Chung Hee

 

Chú thích: Mục đích của sơ đồ là làm rõ điều tác giả muốn trình bày
chứ không nhằm bàn sâu vào các dạng thức mô hình toàn trị và độc tài.

Tuy nhiên vẫn sẽ có người phản bác lại “phản bác” trên và cho rằng không thể đánh đồng một chế độ độc tài với một chế độ toàn trị.  Chế độ độc tài có thể là độc tài của một người như Park Chung Hee hoặc của một đảng như Đảng Nhân dân Hành động (People’s Action Party) của Singapore chỉ nhằm nắm quyền chính trị; chúng không nhằm xây dựng con người và tư tưởng con người theo một khuôn mẫu lý thuyết đã định sẵn do đó chúng không xâm phạm vào đời sống từng người, từng gia đình nhằm uốn nắn tư tưởng và hành động của họ theo khuôn mẫu đã định sẵn. Trái lại, chế độ toàn trị có mục tiêu nắm, nặn và sắp xếp mọi hoạt động của con người từ tư tưởng, tôn giáo, đời sống xã hội, và có thể bao trùm cả đến cả chính trị lẫn kinh tế. Chế độ toàn trị của Liên Xô trước đây (ở đây tác giả tránh bàn về lý do tại sao một chủ nghĩa với mục tiêu cao đẹp nhằm giải phóng con người của Marx, khi ghép vào một đảng cầm quyền, lại trở nên toàn trị) và chế độ toàn trị ở Iran hiện nay khá giống nhau trên nhiều mặt, đặc biệt là mục tiêu áp đặt một ý thức hệ/giáo lý có tính toàn diện trên toàn xã hội do đó con người sống trong đó cảm thấy bị bức bách, mất tự do, không thể chủ động trong sáng tạo. Tuy nhiên có một sự khác biệt quan trọng là Iran cho phép tự do kinh doanh thì chế độ toàn trị của Liên Xô lại khác hẳn vì ở đó mọi hoạt động kinh tế, cung cấp việc làm cũng là do nhà nước quyết định, do đó mà người dân bị kìm cặp một cách ghê gớm hơn, phải giả vờ chấp nhận chế độ để có việc làm kiếm cơm. Vì phải lợi dụng mọi lỗ hổng để thoát gọng kìm, bệnh giả dối, không trung thực, sống hai mặt là những biểu hiện phổ biến.

 

Dựa vào phân loại trong sơ đồ 3 thì có thể nói xã hội Việt Nam đã thoát khỏi mô hình toàn trị, bởi hai lý do: người dân đã có quyền tự do làm ăn, có quyền tư hữu và dù về mặt chính thống, chỉ có một ý thức hệ được công nhận nhưng đã thoát khỏi cảnh mọi phát biểu, chữ viết không những phải đắn đo mà còn phải theo khuôn khổ mà Đảng và nhà nước quyết định nếu không, thân nhân có thể bị coi là "kẻ thù của giai cấp, của chế độ", có thể bị tù tội, hoặc ít nhất là mất việc, hoặc không thể kiếm được việc làm, sống bên lề xã hội và con cái cũng bị rơi vào vòng bị phân biệt đối xử.  Ở Việt Nam công bình mà nói, nhà nước không còn dùng đủ mọi thủ đoạn để hạn chế hoạt động tín ngưỡng như trước đây và người dân cũng đã có quyền có niềm tin tôn giáo, quyền ăn nói riêng tư với nhau, không sợ bị trừng phạt chỉ vì lời báo cáo của kẻ khác, và quyền này cũng thể hiện cả trên báo chí ở một mức nhất định. 

 

Sự chuyển động trong xã hội Việt Nam từ 1975 như đã trình bày ở Phần I cho thấy Việt Nam đang trên quá trình thoát khỏi sự áp đặt về tư tưởng chủ đạo trên mọi người dân: họ không còn bị cầm tù chỉ vì việc từ chối chấp nhận chủ nghĩa Mác-Lê, và Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã chấp nhận tư bản chủ nghĩa với nền kinh tế thị trường mà bản thân đảng viên cũng có quyền “bóc lột thặng dư.” Hơn nữa như cũng đã trình bày ở phần I, Đảng đã mở cửa cho việc “xem xét, bổ sung, sửa đổi” chủ nghĩa Mác-Lê. Tất nhiên là còn sót lại điều nọ điều kia từ quá khứ nhưng có thể nói chế độ toàn trị về cơ bản đã bị khai tử ở Việt Nam. Nó đang tiến đến chế độ độc tài như ở Nam Triều Tiên trước kia và Singapore hiện nay.  Nhưng khác với Nam Triều Tiên, và rất giống Singapore, độc tài ở Việt Nam không phải là độc tài cá nhân mà là độc tài của một đảng. Singapore chống được tham nhũng vì họ tôn trọng luật pháp và sự phân quyền trong hệ thống nhà nước, đặc biệt là tôn trọng tính độc lập của toà án, nhưng loại trừ quyền tự do hoạt động chính trị. Gọi là độc tài vì đảng cầm quyền ở Singapore sẵn sàng mạnh tay đàn áp các hoạt động chính trị chống đối bằng luật pháp mà chính đảng này viết ra. 

 

2. Về khả năng phân quyền trong cơ cấu quyền lực nhà nước ở Việt Nam

 

Quá trình chuyển đổi ở Việt Nam đã làm yếu thế quyền độc tôn của Đảng và tăng cường quyền lực của nhà nước. Điều này trong thời gian qua đã thể hiện quan trọng nhất ở chiều hướng cai trị bằng luật pháp, thay vì bằng quyết định của Đảng.  Nhiều bộ luật quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến người dân đã ra đời như luật hình sự, luật dân sự, luật doanh nghiệp, luật nhà ở, luật đất đai, luật đầu tư, v.v.  Tuy nhiên việc xác định thế nào là nhà nước pháp quyền thì còn chưa rõ. Nhà nước pháp quyền có thể hiểu là nhà nước cai trị bằng pháp luật và chỉ bằng pháp luật, ở đó Hiến pháp được coi là tối cao và mọi luật lệ phải tôn trọng nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp. Hầu hết các nước đều viết Hiến pháp và luật pháp bằng văn bản, nhưng Anh là trường hợp ngoại lệ, họ theo truyền thống luật tập tục không thành văn (common laws), tức là làm theo và xử theo những gì trước đó đã được chấp nhận, tất nhiên không phải họ không có luật thành văn. Việc phân quyền trong một nhà nước pháp quyền là nhằm phân rạch ròi quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, chủ yếu là lập pháp (làm luật), hành pháp (thi hành các quyết định của lập pháp và tư pháp) và tư pháp (toà án, diễn giải hiến pháp, luật và hướng dẫn thi hành luật).

 

Ở Việt Nam, vấn đề phân quyền chưa rạch ròi vì định nghĩa một nhà nước pháp quyền chưa rạch ròi. Lý do chính là quyền lực của Đảng đối với nhà nước chưa được xác định rạch ròi bằng luật pháp. Chỉ một câu Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ chưa đủ.